Noob Weblog

Thánh địa La Vang

Posted by noob on Tháng Mười Một 2, 2008

. Vị trí, địa danh.
Thánh Địa La Vang nằm trong khu vực xưa gọi là Dinh Cát (đời Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam, thế kỷ XVI. Vùng này gọi là Dinh Cát, tức là Dinh xây trên một vùng đất cát, có khi còn gọi là Cát Dinh), nay thuộc xã HảI Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thuộc Tổng Giáo phận Huế cách thành phố Huế độ 60 km về phía Bắc, và cách thị xã Quảng Trị chừng 6 km về phía Nam.

Dinh Cát là vùng đất cống hiến nhiều vị anh hùng tử đạo và cũng là nơi có số người Công Giáo sinh động.
La Vang là một phường nhỏ bé, mất hút giữa chốn rừng thiêng nước độc, chẳng mấy ai lui tới, ngoại trừ một số tiều phu từ phía Quảng Trị lên. Sau nầy, trong thời kỳ cấm cách, nhiễu loạn, giáo hữu từ các xứ đạo như Hạnh Hoa, Cổ Vưu, Thạch Hãn…trốn lên rừng núi để tránh cơn bách hại. Khi bình yên, họ lại trở về quê quán. Như vậy, La Vang xưa được xem là nơi “lánh nạn” của nguời công giáo trong các thời kỳ khó khăn nhất trước đây..

2.Tại sao gọi là La Vang
a/. Cách giải thích thứ nhất:
Cụ Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài (Phước Môn Quận Công), trong bút tích về Đền Thờ Thánh Mẫu La Vang đề ngày 28 tháng 2 năm 1925, tại Huế, có viết: “La Vang là tiếng kêu om sòm. Thường người ta đặt tên chỗ nọ chỗ kia, thì lấy tên cái khe, cây cổ thụ, hay tên người nào trước ở đó mà đặt tên chỗ, song đây thì lấy tiếng La Vang mà đặt tên cũng là lạ. La Vang là tiếng khi người ta lâm nguy mà kêu cứu, tiếng đuổi thú dữ, la vang là tiếng rao truyền, la vang là tiếng khi người ta được sự vui mừng quá bội, hoảng hốt mà la vang hay là tiếng quở trách. Tưởng rằng ý định đã xui cho người ta dùng tiếng La Vang mà đặt tên cho chỗ này cho ứng nghiệm về việc đã xảy ra bấy lâu nay về sau này nữa”.
• Đức Cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn (1878 – 1948), trong bài diễn văn về Đức Mẹ La Vang (18.08.1932), có nói: “Tên La Vang là vì xưa ở nơi đó có nhiều cọp, xóm Trí Bưu vào làm chòi ở lại, làm gỗ vỡ đất, nên đêm nào củng đánh mõ la lối để đuổi cọp, vì thế xóm xung quanh nhà thờ gọi là La Vang”.
“Ban đêm phường La Vang không có sự thinh lặng. Đêm nào người ta cũng la lối om sòm. Họ đánh mõ, đánh thùng rộn ràng, để đuổi các thú dữ như heo rừng, voi, cọp… từ rú xanh ra phá phách khoai, sắn, lúa. Nên người ta gọi là phường La Vang”.

b. Cách giải thích thứ hai:
Tiếng La Vang do chữ Lá Vằng mà ra.
Linh mục Philiphê Lê Thiện Bá (1891 – 1981), Nguyên Giáo Sư Tiểu Chủng Viện và Đại Chủng Viện Huế, chánh quán làng Cổ Vưu (Trí Bưu), có để lại bút tích giải thích tên gọi La Vang như sau: “Trong địa bộ làng Cổ Vưu có ghi: “Phường Lá Vằng”, vì ngày xưa trên linh địa La Vang có vô số cây lá vằng. Loại cây này có hột đen, ăn được, vị đắng và lá là một vị thuốc. Người phụ nữ xứ Dinh Cát (Quảng Trị) thường dùng lá vằng sắc uống khi sinh con. Do đó khi lập phường thì nhà nước đặt tên là “Phường Lá Vằng”. về sau người ta đọc Lá Vằng thành La Vang”.
“Phường Lá Vằng”, Thánh địa La Vang là một vùng đất rừng rú xen kẻ nhiều thứ cây, trong đó có cây lá vằng nhiều hơn cả.Từ chốn Lá Vằng, hay La Vang được loan truyền từ đời nọ sang đời kia, là Đức Mẹ Maria hiện ra an ủi nâng đỡ con cái của Mẹ trong thời kỳ bách hại này.Từ đó tiếng lành đồn xa, khắp Giáo phận Huế, trong các giáo phận khác ở Việt Nam và cả Đông Dương, về việc Đức Mẹ hiện ra tại La Vang cùng nhiều ơn lạ của Mẹ Thiên Chúa.
Thật vậy, Đức Mẹ đã biến nơi âm u, rừng thiêng nước độc trở thành nơi qui tụ con cái muôn phương. Tiếng kêu của con cái Mẹ trong cảnh lầm than cũng là tiếng vang động tới cõi thiên đình. Từ đó nhiều người tứ xứ, từ khắp nơi tuôn về Mẹ.
“Phường lá vằng” đã trở thành “Thánh Địa La Vang”. Đồng bào lương giáo khắp nơi tuôn về hành hương, cầu nguyện, xin ơn độ trì. Mẹ đã nhậm lời và ban nhiều ơn lành phần hồn phần xác.

SỰ TÍCH ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LA VANG

Tháng 8 năm 1798, từ Phú Xuân, Vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn ra sắc chỉ cấm đạo, hạ lệnh bách hại gắt gao. Cơn bách hại đột ngột và dữ dội.Lệnh vua vừa ban ra, quân lính đua nhau truy nã người công giáo để bắt bớ, hành hạ và chém giết.
Để tránh cơn bắt đạo ác liệt này, các tín hữu thuộc tỉnh Quảng Trị tìm cách chạy trốn vào một nơi hẻo lánh, cách xa tỉnh thành chừng 6 cây số. Đây là rừng núi La Vang độc địa, hẻo lánh, nên giáo hữu hy vọng quan quân không tìm đến. Dầu vậy đêm ngày họ vẫn hồi hộp lo sợ bị tầm nã bắt bớ, sợ thú dữ rừng hoang. Lại thêm lương thực không có, khí độc, nước độc, nên lâu ngày nhiều người lâm bệnh, tình cảnh thật trăm bề khổ cực.
Trong cơn nguy khốn ấy, mọi mgười chỉ trông cậy vào Chúa và Đức Mẹ, đêm ngày hội họp nhau nơi đám cỏ, dưới gốc cây đa cổ thụ, đọc kinh lần hạt than khóc kêu xin Đức Mẹ thương giúp chở che.Thấy con cái giữ lòng trung nghĩa cùng Chúa, nhất là đang lâm cảnh hoạn nạn cơ cực ấy, Mẹ nhân lành động lòng thương xót.
Một hôm, trong lúc họ đang đọc kinh cầu nguyện, thì Đức Mẹ hịên ra rực rỡ tươi đẹp vô ngần. Người mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, có hai Thiên Thần hầu cận. Đức Mẹ xuống đứng trên đám cỏ gần gốc cây đa nơi giáo hữu đang cầu nguyện.Đức Mẹ tỏ vẻ hiền từ âu yếm, an ủi các giáo hữu vui lòng chịu khó, dạy hái lá quanh đó nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Đức Mẹ còn phán hứa rằng: “Các con hãy tin tưởng cam lòng chịu khổ, Mẹ đã nhậm lời các con kêu xin. Từ này về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở cốn này,Mẹ sẽ nhậm lời ban ơn theo ý nguyện ”. Đức Mẹ còn hiện ra nhiều lần như vậy. Đó là điều các tiền nhân loan truyền lại cho đến ngày nay.
Cũng từ ngày đó, người người lương giáo tuôn về La Vang hành hương cầu nguyện, và Đức Mẹ giữ lời hứa, ban nhiều ơn phúc phần hồn, phần xác.

ĐỀN THÁNH LA VANG VÀ LINH ĐÀI ĐỨC MẸ

Ngày nay ở linh địa La Vang có hai nơi đặc biệt: Vương Cung Thánh Đường dâng kính Đức Mẹ, và Linh Đài Đức Mẹ.
Đền Thánh Đức Mẹ La Vang.

1. Nhà Thờ bằng tranh đầu tiên:khoảng 1820.
Người xưa kể rằng: những người dân địa phương đi rừng thường hay lui tới van vái tại gốc cây đa cổ thụ ở phường La Vang. Về sau họ nghe nói có Bà linh thiêng hiện ra ở đây, nên họ liền đắp một cái nền thờ vọng dưới gốc cây đa và rào quanh tứ phía.
Vào khoảng đầu đời Minh Mạng, dân ba làng Thạch Hãn, Cổ Thành và Ba Trù chung nhau làm một ngôi miếu trên nền thờ vọng ở gốc cây đa La Vang, nhưng về sau bị động, các chức sắc của ba làng đồng chấp thuận nhượng cúng đám đất và ngôi miếu tranh cho bên Công Giáo.
Sau khi những người đaị diện bên Công Giáo đã nhận đất và ngôi miếu do ba làng nhượng lại, họ liền đến trình bày sự việc trên cho vị linh mục quản xứ và theo sự xếp đặt của ngài, ngôi miếu đã được sửa chữa thành nhà Thờ Công Giáo. Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên tại La Vang, chính nơi Đức Mẹ hiện ra. Sau khi Thánh Địa La Vang có Nhà Thờ đầu tiên, thì sự tích Đức Mẹ hiện ra được loan truyền đi khắp nơi bằng giấy tờ.
Ngày 09.09.1885 ngôi nhà Thờ bằng tranh nhỏ bé của Đức Mẹ bị phóng hỏa thiêu rụi hoàn toàn, dưới thời Văn Thân, trong lúc mấy gia đình Công Giáo ở La Vang đã bỏ nhà cửa chạy trốn thoát vào rú xanh cùng với khoảng 200 giáo hữu họ Cổ Vưu.

2. Nhà Thờ bằng tranh thứ hai: 1885.
Phong trào Văn Thân tạm chấm dứt, tình hình xứ Dinh Cát trở lại bình an, giáo đoàn phường La Vang bỏ Dinh Cát trở về nhà, ổn định cuộc sống. Làm sao quên được ngôi nhà Thờ bằng tranh nhỏ bé, nơi sớm hôm có bóng Mẹ từ bi. Họ tập trung đi rừng kiếm gỗ, tranh để làm lại ngôi Nhà Thờ khác trên nền cũ. Đây là Nhà Thờ bằng tranh thứ hai tại Thánh Địa La Vang.

3. Đền Thánh bằng ngói thứ nhất: 1901-1923.

Trải qua gần một thế kỷ, từ ngày Đức Mẹ hiện ra, Thánh địa La Vang vẫn âm thầm lặng lẽ giữa những biến cố tôn giáo cũng như thời cuộc. Mãi đến năm 1886, cuộc bách hại chấm dứt, số người hành hương về La Vang càng ngày càng gia tăng. Ngôi nhà Thờ bằng tranh đã trở nên quá chật chội, không đáp ứng đủ nhu cầu hành hương của người tín hữu Giáo Phận Huế lúc bấy giờ.
Vì thế vào năm1886, Đức Cha Marie Antoine Caspar (Lộc) quyết định xây một ngôi Đền Thánh lợp ngói tại Thánh Địa La Vang ở chính chổ Đức Mẹ đã hiện ra. Đền Thánh được làm theo kiểu Việt Nam có cọt kèo xuyên trến, với hai tháp chuông đơn sơ và có sức chứa khoảng 400 người.
Ngôi Đền Thánh lợp ngói thứ nhất tại La Vang đã được thi công trong vòng 15 năm (1886-1901) mới hoàn thành, dưới đời ba cha sở: C. Bonnard (Bổn), C. Patinin(Kinh), và cha Bonin (Ninh), phí tổn xây cất do lòng hảo tâm đóng góp của toàn thể giáo hữu Giáo Phận Huế, lễ khánh thành được tổ chức từ ngày 06-08/08/1901 vào dịp Đại Hội Hành Hương lần đầu tiên. Đền Thánh được làm phép với tước hiệu: Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu.
Đức Mẹ ngự trong ngôi đền thánh lợp ngói gần 23 năm (1901-1923). Sau đó nhiều bộ phận bị mối mọt làm hư hỏng, vì thế cần phải xây dựng một Đền Thánh mới. Trong khi chuẩn bị làm Đền Thánh mới, một số linh mục cũng như giáo dân trong Giáo Phận ước ao giữ lại Đền Thánh cũ nguyên vẹn như vậy làm kỷ niệm.

4. Đền Thánh La Vang năm 1924-1928.

Trong những dịp Đại Hội Hành Hương, giáo hữu ngày càng đông, Đền Thánh quá nhỏ hẹp. năm 19223, Đức cha Eugène Allys(Lý) quết địng xây dựng một Đền Thánh rộng lớnhơn tại Thánh Địa La Vang. Đức Cha đã giao công tác kíên thiết cho Cha Morineau (Trung), quản xứ Trí Bưu kiêm La Vang. Sau gần bốn năm thi công (1924-1928), ngôi Đền Thánh mới được hoàn thành, với hai tầng mái và hai cánh Thánh Giá cổ điển, cùng với tháp chuông vuông hai tầng cao ngất. ngôi Đền Thánh mới nỗi bật lên giữa cảnh đồi cát xung quanh và rừng núi xa xa. Đây là ngôi Đền Thánh lợp ngói thứ hai, minh chứng lòng thành kính Đức Mẹ La Vang của giáo hữu toàn quốc, và cả Đông Dương.
Ngày 20-22 tháng 08 năm 1928, Giáo Phận tổ chức Tam Nhật Đại Hội Hành Hương Đức Mẹ La Vang lần thứ 9 và cử hành lễ khánh thành ngôi Đền Thánh mới này. Mặc dù lễ khánh thành đền Thánh đã được tổ chức, nhưng lúc bấy giờ tháp chuông chưa được hoàn tất. đến ngày 30-9-1928 là ngày Chúa Nhật, Đức Cha Eugène Allys (Lý) đã cử hành tại Đền Thánh mới lễ nghi làm phép ba quả chuông La Vang một cách long trọng.
Trong thời gian đền thánh mới đang được thi công, thì ngoài đền thánh cũ ngày càng bị hư hỏng nặng, hai tháp chuông gần xiêu đổ. bất ngờ một đêm kia, sau khi giáo dân đọc kinh tối xong ra về, căn gần tháp chuông sập xuống. Bấy giờ có người muốn sửa chữa Đền Thánh cũ và cứ giữ lại để làm kỷ niệm. Nhưng cuối cùng theo lệnh của giáo quyền. Đền Thánh cũ được triệt hạ toàn bộ. Về sau Linh Đài Đức Mẹ La Vang được dựng tại chổ mà trước kia đã làm Đền Thánh cũ.

5. Vương Cung Thánh Đường.
Đền Thánh Đức Mẹ La Vang đã được Đức thánh Cha Gioan XXIII nâng lên bật Vương Cung Thánh Đường ngày 22 tháng 8 năm 1961. Hôm đó cũng là ngày Đền Thánh được cung hiến và giáo quyền chính thức tuyên bố Thánh Địa La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc. Nhưng cuộc chiến năm 1972 đã phá hủy hoàn toàn Vương cung Thánh Đường La Vang. Hiện giờ chỉ còn lại một mảng tháp chuông và một bức vách cuối Đền Thánh
.

Linh Đài Đức Mẹ La Vang

1. Pho tượng Đức Mẹ La Vang.
Trong dịp Đại Hội Đức Mẹ La Vang lần đầu tiên (08/08/1901), Đức Cha Marie-Antoine Caspar (Lộc) đã làm phép pho tượng Đức Mẹ La Vang (lấy mẫu tượng Notre-Dame des Victoires tại Paris, Pháp). Đức Mẹ đầu đội triều thiên vàng, mình mặc áo choàng màu thiên thanh phủ trên áo trắng ngà, chân đứng trên đám mây. Đức Mẹ nhìn đoàn con, nét mặt dịu hiền, dáng điệu uy nghi. Hai tay Mẹ đỡ nâng Chúa Hầi Đồng đứng bên tay mặt như muốn đưa ra giới thiệu cùng chúng ta , trao ban cho chúng ta. Chúa Giêsu Hài Đồng mặc áo màu hồng, đầu đội triều thiên vàng, chân đứng trên quả địa cầu nhấp nháy mấy vì sao. Chúa Hài Đồng một tay níu áo Đức Mẹ, tựa nương vào Mẹ, như để làm gương cho chúng ta, một tay đưa ra mời gọi chúng ta là các em của Chúa chạy đến cùng Mẹ để tỏ lòng hiếu thảo mến yêu, và lãnh nhận muôn ơn lành, nhờ lời Mẹ chuyển cầu. Pho tượng này có từ năm1901, nay không còn nữa, chiến cuộc năm 1972 đã hủy hoại hoàn toàn.

2. Cây đa đại thụ.

Theo lời truyền tụng, Đức Mẹ hiện ra gần gốc cây đa tại Linh Đài hiện nay. Linh Đài ấy được xây dựng trong vòng ba đợt. Năm1955, Linh Đài là một ngôi nhà gạch tứ giác thô sơ, sau đó được sửa chữa chắc chắn hơn. Đến năm 1963 nhà tứ giác được phá đi để xây dựng một Linh Đài theo kiểu kiến trúc mới, mô tả lại sự tích Đức Mẹ hiện ra dưới gốc cây đa cổ thụ. Vì cây đa cổ thụ không còn vết tích gì, nên Giáo Quyền đã nhờ kiến trúc sư Ngô Viết Thụ sáng tác ba cây đa bằng xi măng cốt sắt tại chính nơi Đức Mẹ hiện ra, nhưng công trình chưa hoàn tất.

3. Giếng Đức Mẹ La Vang.
Năm 1903, giếng này được đào trong vườn Đức Mẹ La Vang. Giáo dân gọi giếng nầy là “Giếng Đức Mẹ”. Vẫn biết nước giếng nầy tự nó chẳng có sức chữa được các bệnh tật, nhưng bởi lòng tin cậy vào quyền phép từ bi của Đức Mẹ La Vang, nhiều người uống nước ấy mà được lành các bệnh tật nguy hiểm. Giếng nầy bây giờ vẫn còn.

LA VANG NGÀY NAY

La Vang ngày nay không còn là nơi âm u hiểm trở, ít ai biết đến như ngày xưa trong thời kỳ cấm đạo, nhưng trở thành nơi vang dội muôn ơn lành hồn xác Mẹ ban cho con cái, và ngân vọng bao lời kinh tin yêu phó thác của con cái Mẹ trên khắp cả nước Việt Nam và cả thế giới.
Lòng tôn sùng Đức Mẹ La Vang đã có liền sau khi Đức Mẹ hiện ra ( 1798). Từ ngày đó trở đi, giáo hữu xa gần hành hương La Vang và đã được Mẹ chở che, ủi an, nâng đỡ. Qua các thời đại, các thế hệ, giáo hội lũ lượt tới kính viếng, cầu nguyện, nhất là từ khi có ngôi Đền Thánh đầu tiên ( 1820-1840), họ càng chạy đến với Mẹ nhiều hơn nữa.
Với cuộc chiến năm 1972, toàn bộ khu vực La Vang bị đổ nát. Các công trình xây dựng trước đây như Tiểu Vương Cung Thánh Đường, nhà Cha quản xứ, nhà Tĩnh tâm, tu viện Mến Thánh Giá Di Loan… đều bị sụp đổ do bom đạn chiến tranh liên tiếp gây nên. Đền Thánh tróc hết mái, còn lại ít đòn tay, run mèn đan vào nhau như một lưới nhện rách tả tơi, và cơn bảo năm 1985 đã làm sập tấc cả. Các dãy nhà cũng bị tiêu hủy hoàn toàn. Cây cối rụi tàn. Các pho tượng 15 Mầu nhiện Mân Côi sứt mẻ. Bức tượng Chúa Giêsu vác Thánh giá ngã xuống đất, cũng bị đổ xuống. Chỉ còn nơi Linh Đài Mẹ hiện ra, ba cây đa đứng vững nguyên vẹn, trừ thân cây bên tả bị một vết xước nhỏ do viên đạn lạc.
Từ năm 1985 Thánh Địa La Vang bắt đầu được trùng tu lại dần dần. Đã hoàn thành Công Trường Mân Côi, tu sửa các pho tượng 15 Mầu Nhiệm Mân Côi. Nhà Cha xứ được xây thêm tầng trên, để tạm tiếp đón những nhóm nhỏ hành hương.
Ngoài ra, còn thiết lập hệ thống điện, đào thêm giếng nước, xây được 50 phòng vệ sinh, và làm lại con đường La Vang thượng, từ quốc lộ vào Đền Thánh La Vang, dài chừng 2 cây số.
Đại Hội Hành Hương Đức Mẹ La Vang lần thứ 24 ( 13-15.8.1996) đã diễn ra một cách tốt đẹp.Tín hữu khắp các miền đất nước cũng như ở hải ngoại tuôn về hành hương đông đúc (khoảng 80.000 người) trong bầu khí đạo đức, thánh thiện, yêu thương , nghèo khó.
Đức Hồng Y Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám Mục Hà Nội, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến hành hương và chủ tế lễ bế mạc sáng ngày 15/08/1996. Một số các Giám Mục cũng đến hành hương trong dịp trọng đại này.
Hiện tại, dù khung cảnh La Vang còn hoang tàn đổ nát, hằng ngày vẫn có nhiều người, nhiều gia đình, đoàn thể lũ lượt hành hương về La Vang, đến với Mẹ, cầu nguyện, sám hối, tạ ơn, đặc biệt vào các ngày mồng 3 Tết Nguyên Đán, lễ Đức Mẹ Lên Trời Hồn Xác, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Mẹ đã muốn La Vang là Thánh Địa của Mẹ, nơi Mẹ thể hiện lòng từ mẫu đối với con cái, nơi con cái biểu lộ lòng sùng mộ, tin tưởng, tri ân đối với Mẹ Thiên Chúa.Chính trong khung cảnh vắng lặng, nghèo khó đó, Mẹ mời gọi con cái chú tâm cầu nguyện, sám hối, hòa giải, canh tân. Chính trong bầu khí thanh thoát bao dung, chan hòa tinh thần các mối phúc thật đó, Mẹ dìu dắt con cái đến với Suối Nguồn là Chúa Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại.

Lần đến La Vang của Lão Tà:

La Vang là một địa danh mà trong lịch trình đi của LT không có. Cho nên lần ghé qua đó như một sự tình cờ khuyến mãi của nhà xe. Đi đến một nơi mà mình không có một chút khái niệm nào trước đó. Hoàn toàn không biết một chút nào. Vậy mà La Vang lại là một nơi có một quá trình lịch sự dày cộm như các bạn đã đọc ở trên.

Khi vào đến cổng, Lão Tà thấy rất nhiều người tàn tật, họ chỉ ở xung quanh vòng rào của LaVang, có người ngồi trên xe lăn. Cái cảm giác rờn rợn của vùng đất Quảng Trị nơi nào cũng là chiến trường, phía dưới là xác người, phía trên là hồn ma. Những người ngồi xe lăn chắc là nạn nhân của chất độc màu da cam. Tiếng xin ăn ỉ ôi của họ đem tới một cảm giác ngài ngại, nửa muốn lại gần, nửa muốn tránh xa họ.

Nơi Đền Thánh còn rất nhiều vết đạn của chiến tranh, nơi đây cũng đã từng là chiến trường cốt nhục tương tàn.

Mọi người cùng xem cây Lá Vằng là cây gì, lá hoa nó ra sao, xem giếng Đức Mẹ ở đâu. Nhiều người còn dùng các chai nước suối để đựng nước ở đây về uống. Nói thật LT không dám uống một chút nước nào ở vùng đất này. Dư âm về một vùng đất bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam vẫn còn đó.

Chợt nghe có tiếng quát tháo, một người bảo vệ đang đuổi một bà lão ra khỏi vòng rào khuôn viên. Trên tay bà cầm một cây quạt, chắc là bà muốn bán nó cho những người hành hương. Tiếc là lão Tà không dành thời gian để tiếp xúc với họ xem hoàn cảnh nào dẫn đến tình trạng mà người hành hương thì ở bên trong, còn xung quang vòng rào có đến mấy chục người xin ăn. Tiếng xin xỏ của họ không lí nhí mà lớn lên, kéo dài như một tiếng rên rỉ, bởi vì họ phải cao giọng thì những người hành hương đang lễ đức mẹ ở gần Cây Đa bằng bê tông mới nghe được.

Trên đường về mình hỏi những người công giáo ở trên xe: ” Tại sao Đức Mẹ là người Trung Đông mà lại mặc áo dài khăn đóng, có phải người ta tưởng tượng ra không?” thì được đáp:

- Đức Mẹ hiện ra ở nhiều nước, mỗi lần hiện thân ở nước nào thì hình ảnh của Mẹ đều mang quốc phục của nước đó.

Có ai đã từng đến La Vang làm ơn nói cho LT biết có phải những người ăn xin đó có phải là nạn nhân chất độc màu da cam không? Bởi vì họ không giống những người ăn xin ở nơi khác người ta xin ăn dọc đường mà họ đứng dọc hàng rào và gọi với vào xin giúp đỡ.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: