Noob Weblog

Bí mật lịch sử: Cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt lần 2 ( tiếp )

Posted by noob on Tháng Mười 11, 2008

Chiến sĩ VN bị quân Tầu bắt trong trận đánh chiếm núi 1509 (Lão Sơn), ảnh trên các trang mạng Trung Quốc

A

Trung Quốc chiếm dải Bình Lộ 400 ở Cao Lộc – Lạng Sơn và Núi Bạc

A

A

Chiến sĩ ta bị giặc Tầu bắt làm tù binh, ảnh được tuyên truyền rộng rãi trên các trang mạng của Trung Quốc

A

Theo các tài liệu trên các trang mạng về quân sự của Trung Quốc họ nói rằng cuộc chiến tranh biên giới lần hai giữa Hoa-Việt xảy ra vào năm 1984.

Nhưng theo tài liệu từ phiá Việt Nam thì đã có những cuộc giao tranh xãy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam vào năm 1981, cuộc giao tranh không lớn so với năm 1984, nhưng sự kiện quan trọng nhất xảy ra năm 1981 là TQ chiếm giải bình độ 400 ở Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn.

A

Mặc dù cuộc chiến tranh biên giới lần thứ nhất chấm dứt vào năm 1979 với sự rút quân của Trung Quốc, nhưng theo cuốn Sự thật về 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, NXB Đà Nẵng, 1996, thì Trung Quốc vẫn duy trì 12 sư đoàn và hàng chục trung đoàn độc lập áp sát biên giới Việt Nam. Những sư đoàn này thường xuyên gây tình hình căng thẳng, tiếp tục lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở mọi quy mô, thực hiện kiểu “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”. Những cuộc tiến công, xâm nhập trái phép, những trận pháo kích dữ dội từ phía Trung Quốc sang đất Việt Nam tiếp tục tàn phá nhà cửa, ruộng vườn trên biên giới Việt Nam. Ngày 5 tháng 6 năm 1981, quân Trung Quốc bắn dồn dập hàng nghìn quả đạn pháo và cối sang nhiều khu vực thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, sau đó dùng lực lượng lớn đánh chiếm khu vực bình độ 400 ở phía Nam cột mốc 26 thuộc lãnh thổ Việt Nam. Ngày 7 tháng 6 năm 1981, nhiều đơn vị lính Trung Quốc dưới sự yểm trợ của pháo binh, tiến công đánh chiếm một số điểm cao ở xã Lao Chải, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên…

Trong trận tấn công năm 1981, quân Trung Quốc chiếm dải bình độ 400 ở Cao Lộc – tỉnh Lạng Sơn. Ghi nhận từ phía Việt Nam về sự kiện này được bạn Chiangsang của mạng Trái Tim ghi lại như sau:

Trước khi bùng nổ trở lại năm 1984, trước đó năm 1981 còn diễn ra một số cuộc giao tranh, lực lượng TQ tham gia trận chiến ở Gao Lin Shan ( núi Cao Lâm ) là trung đoàn biên phòng 15 và sư đoàn bộ binh 42 quân đoàn 14, ở Fa Car Shan là sư đoàn 3 biên phòng tỉnh Quảng Tây (theo http://www.orbat.com ). Phía VN cũng ghi nhận xung đột giai đoạn này ở Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn. Đặc biệt, trong đó có dải bình độ 400 ở Cao Lộc (Lạng Sơn) đã bị quân TQ chiếm đóng từ 1981-1997 (nguồn :Ngoại giao Việt Nam).

Nhưng nói chung xung đột năm 1981 không lớn. Khi nói dải bình độ 400 bị TQ chiếm từ 1981-1997 không có nghĩa là nó được trao trả năm 1997. Mà là đến thời điểm cuốn ngoại giao Việt Nam được xuất bản năm 1997 thì nó vẫn bị chiếm.”

Cho đến nay – năm 2006 – vẫn chưa có tài liệu nào nói một cách chắc chắn được rằng dải bình độ 400 ở Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn có được Trung Quốc trao trả lại cho phía bên Việt Nam hay không?

Tính đến thời điểm năm 1997 thì giải bình bộ 400 vẫn còn bị Trung Quốc chiếm đóng như lời kể của Chiangsang ở trên.

Kể lại sự kiện dải bình độ 400, một bộ đội Việt Nam đã kể trên mạng Trái tim việt online như sau: “Năm 1995, lớp bọn mình đi huấn luyện quân sự, các giáo viên luôn lấy các chiến dịch phòng ngự chống lấn chiếm và chiến dịch tái chiếm dãy bình độ 400 làm ví dụ của bài giảng. 10 năm rồi không còn nhớ rõ nữa, nhưng giáo viên (Trung tá) giảng là ta bắn vào đấy tổng cộng 20 vạn quả đạn pháo và cối các loại, hy sinh hàng nghìn chiến sỹ. Nhưng khi sinh viên vặn hỏi có lấy lại được không thì thầy giáo không trả lời. Trong một bài giảng có một trận đánh như sau:Ta bắn chuẩn cực kỳ dữ dội, sau đó bộ binh tràn lên không gặp sức chống cự. Bộ phận tấn công đã điện về Sư đoàn là hoàn thành nhiệm vụ, vì bộ đội đã “bu” gần hết xung quanh đỉnh Thế nhưng đúng lúc ấy địch phản pháo đột ngột. Theo bản năng, bộ đội ta ào ạt nhảy vội xuống hào để tránh thương vong. Nhưng lúc này mới biết toàn bộ chiến hào đã bị gài mìn. Bộ đội ta trúng mìn liên tục, thương vong nặng. Số còn lại do dự còn trên mặt đất chưa dám xuống hào cũng bị pháo bắn hất tung, nên đành phải nhảy tiếp xuống dưới hào, nhưng cố chọn chỗ nào mìn đã nổ (nơi thương binh tử sỹ vẫn đang vật vã). Sau hơn 1 phút pháo bắn, địch trú sẵn ở các địa đạo bố trí dưới chiến hào bật nắp nhô lên, dùng súng trung liên quét dọc theo đội hình ẩn nấp của ta làm toàn bộ các chiến sỹ hy sinh. Riêng trận này mất hơn 300 người. Pháo ta bắn phản pháo không có tác dụng. Chỉ có một số rất ít chiến sỹ chạy thoát về tuyến sau.”

Hiện nay vẫn chưa có thông tin chính xác nào về dải bình độ 400 thuộc về bên nào?

Trung Quốc chiếm Núi Đất và Núi Bạc năm 1984

Khác với trận đánh năm 1981 tiến công vào Lạng Sơn chiếm dải bình độ 400, trận đánh năm 1984 quy mô và lớn hơn rất nhiều, và có thể cũng chính vì như vậy mà mà mạng quân sự Trung Quốc gọi đây là cuộc chiến tranh biên giới lần thứ hai. Theo tài liệu của các webside quân sự Trung Quốc thì các đơn vị Trung Quốc tham chiến từ năm 1984 đến năm 1988 gồm có:

Binh đoàn quân khu Kôn Minh :

– Sư đoàn bộ binh 31 (quân đoàn 11).
– Sư đoàn bộ binh 32 (quân đoàn 11).
– Sư đoàn bộ binh 40 (quân đoàn 14).
– Sư đoàn bộ binh 41 (quân đoàn 14), gồm trung đoàn bộ binh 122, 123 và trung đoàn biên phòng 15.
– Sư đoàn pháo binh số 4, ĐQK Kôn Minh.

Thời gian tham chiến : tháng 4-1984 đến tháng 4-1985.

Thiệt hại : 766 chết (gồm cả công nhân dân sự ?)
Trong đó :
– Cao điểm Lão Sơn và Ba Lí và Đông Sơn : 651 chết.
– Cao điểm Giải Âm Sơn : 115 chết.
– Trận ngày 12-7 : trung đoàn 119 và 122 thiệt hại 61 chết.
– Trung đoàn 118 : 198 chết.
– Trung đoàn 96 : 41 chết, 298 bị thương.

Binh đoàn quân khu Nam Ninh :

– Sư đoàn bộ binh số 1 (quân đoàn 1).
– Sư đoàn bộ binh 36 (quân đoàn 12).
– Sư đoàn pháo binh số 3, ĐQK Phúc Châu.
– Sư đoàn pháo binh số 9, ĐQK Nam Ninh.

Thời gian tham chiến : tháng 12-1984 đến tháng 5-1985.

Thiệt hại : 404 chết.
Trong đó :
– Sư đoàn bộ binh số 1 : 359 chết.
– Sư đoàn bộ binh 36 : 38 chết.
– Sư đoàn pháo binh số 9 : 7 chết.


Hình trích từ mạng quân sự Trung Quốc

Cuộc xâm lược của Trung Quốc lần thứ hai năm 1984, trích theo tài liệu từ cuốn Sa Lực – Mân Lực, 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, NXB Văn nghệ Tứ Xuyên, 1992, thì bắt đầu từ ngày 5 đến ngày 6 tháng 4, 1984 sau khi dùng pháo binh bắn phá dữ dội, 2 tiểu đoàn quân Trung Quốc đánh chiếm điểm cao 820, 636 thuộc xã Quỗc Khánh, huyện Tràng Ŀịnh, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 18 tháng 4, hai đại đội quân Trung Quốc đánh chiếm điểm cao 1250 thuộc huyện Yên Minh, tỉnh Hà Tuyên. Đặc biệt, từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5, Trung Quốc sử dụng quân đoàn 14 và một số sư đoàn độc lập thuộc quân khu Kôn Minh tiến công các điểm cao 1545, 1509, 772, 233, 1250 thuộc tỉnh Hà Tuyên, Việt Nam.”

Ngày 28 tháng 04, 1984, cứ điểm 1509 bị Trung Quốc chiếm, và sau đó Núi Bạc huyện Yên Minh cũng bị chiếm đóng. Tại cứ điểm 1509 (nay là Lão Sơn) Trung Quốc chết 651 quân; cứ điểm Núi Bạc (nay là Giải Âm Sơn) Trung Quốc mất 115 quân; trong khi phía bộ đội VN mất 550 quân, và 18 cán binh bị bắt làm tù binh.

Hai nơi xảy ra giao tranh quyết liệt nhất là ở cứ điểm 1509 (Lão Sơn) và Núi Bạc (Giải Âm Sơn).


Cán binh VN bị tử thương hình trích từ webside quân sự Trung Quốc

Như vậy là những năm tháng bắt đầu thực hiện cải cách nước ta đã ở trong một hoàn cảnh rất khó khăn, không những phải chống lại những đoàn quân xâm lược từ Phương Bắc mà theo như những tài liệu mà HSTS có thì còn phải chống lại những đoàn quân Đông Tiến có vũ trang xâm nhập vào Việt Nam cả đường biển và đường bộ của tổ chức khủng bố Việt Tân.

A
Núi Bạc (nay là núi Giải Âm Sơn) bị Trung Quốc chiếm

Giao tranh tại cứ điểm 211 (A6B)

Quân Trung Quốc tiến chiếm Núi Đất 1509 (Lão Sơn)Hình trích từ mạng Zhangli

http://burningblood.yournet.cn/zhanli
Trong đợt tấn công đầu tiên vào những năm 1984, quân Trung Quốc đánh và chiếm được các cứ điểm 1509 (Lão Sơn), 1030, 1800, 852, và 211 ở vùng suối Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên, cùng với Núi Bạc ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà Tuyên. Sau đó quân Trung Quốc tiếp tục tràn xuống bình độ 1200, nhưng bị bộ đội ta chặn lại.

Vào ngày 31 tháng 05, 1985, bộ đội VN quyết định tấn công để chiếm lại cứ điểm 211. Cuộc phản kích này kéo dài từ ngày 31 tháng 05, 1985 đến ngày 3 tháng 06, 1985 thì chấm dứt. Qua việc đối chiếu tài liệu giữa Trung Quốc và Việt Nam, cứ điểm 211 chính là cứ điểm A6B được ghi chép trong các bản báo cáo hành quân của phía bộ đội Việt Nam. Cứ điểm 211 (A6B) là mỏm núi cao 200m.

Trên mỏm núi, quân Trung Quốc chia ra làm ba khu vực. Theo bản báo cáo trận phản kích tái chiếm cứ điểm 211 (A6B) thì phía bộ đội VN tái chiếm được 2 khu vực.

Theo tài liệu của Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 2thì đầu năm 1984, mặt trận tại đây gặp khó khăn, Nguyễn Đức Huy được điều lên làm Phó Tư lệnh, tham mưu trưởng Quân khu 2, trực tiếp là Tư lệnh mặt trận Vị Xuyên. Lúc đó đã là Thượng tướng nhưng tướng Huy vẫn trực tiếp theo dõi chỉ đạo một trận nhỏ là trận giành lại A6b, trận này theo tài liệu của tướng Nguyễn Đức Huy thì cuộc phản kích thành công và cứ điểm A6b được giữ vững cho đến khi kết thúc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (1990).

Riêng hồi ký của một bộ đội Trung Quốc tham dự trận đánh ở cứ điểm 211, kể lại rất chi tiết cuộc giao tranh đẫm máu của hai bên, nhưng bản hồi ký này không ghi lại diễn tiến sau ngày 1 tháng 06, 1985.

Đến nay không chắc chắn được là khu vực thứ ba của mỏm núi 211 (A6B) vẫn còn nằm trong tay của Trung Quốc hay Việt Nam đã chiếm lại.

Trong bốn ngày giao tranh, phía Trung Quốc có 21 lính tử thương, 81 bị thương, một bị bắt.

Tài liệu Việt Nam được trích từ mạng Trái tim việt online, và bản nhật ký của một người lính Trung Quốc ghi lại trận 211 trích từ mạng quân sự Trung Quốc.

Trận phản kích ở cứ điểm 211 ( A6b ) nhìn từ phía Việt Nam

Trận tiến công A6b ( Vị xuyên – Hà Tuyên ) của đại đội 5, tiểu đoàn 5, trung đoàn 567, sư đoàn 322, quân đoàn 26 Quân khu 1.
Ngày 31-5-1985.

Địa hình

Mỏm A6 thuộc sườn Đông dãy núi đá 400 (cao khoảng 200m), cách biên giới Việt Trung (mốc 12-13) khoảng 1,5km về phía Đông Nam.
Tiếp giáp về phía Đông A6 có đồi đá Pháp; từ Đông Bắc sang Tây bắc có đồi Đài, đồi Cô X, đồi chuối, đồi Cây Khô, mỏm A5, A23; phía tây mỏm A22 (A6 cách các mỏm trên khoảng 200-300m); phía nam có hang Gió (cách 200m), hang Dơi, hang Mán, hang Làng Lò (500-100m) thuận lợi cho giấu quân.
Mỏm A6 là núi đá tai mèo không liền khối, rộng 70m, dài 130m, phía Đông và Tây dốc gần như thẳng đứng, phía Nam và Bắc dốc thoài. Từ sườn nam sang tây bắc dốc thẳng đứng hình thành 2 tầng, khó phát triển khi tấn công (phải đi vòng sang Đông Nam). A6 gồm 2 mỏm, nối với nhau bằng một yên ngựa thấp, địch chiếm A6b, ta chiếm A6a cao hơn không đáng kể. Cây cối đã bị pháo 2 bên bắn trụi.


Tình hình địch

Từ tháng 4-1984 địch tiếp tục mở rộng phạm vi lấn chiếm sang đất ta nhưng bị chặn lại ở khu vực bắc suối Thanh Thuỷ.
Phòng ngự trực tiếp tiếp xúc với ta ở A6b-A5- đồi Chuối – Cây Khô là tiểu đoàn 2 và ở 400-233 là tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 595 sư đoàn 199, quân đoàn 67 Đại quân khu Tế Nam của TQ. Sư đoàn 199 vào thay phiên từ 18-5-1985 vẫn lấy phiên hiệu đơn vị phòng ngự cũ là sư đoàn 40 quân đoàn 14 Đại quân khu Tế Nam.
Địch bố trí phòng ngự ở A6b như sau :
Phía Nam : ổ số 1 có 3-4 tên. Ổ số 2 có 4-6 tên. Ổ số 3 có 3-4 tên, có 1 trung liên.
Phía bắc và Đông Bắc : ổ số 4 có 7-10 tên, trang bị 1 trung liên, 1 đại liên, 3 khẩu B41, 2 giá H12 ứng dụng mỗi giá 2 ống, 1 máy VTĐ, 1 ống nhòm hồng ngoại. Ổ số 5 có 4-5 tên, trang bị 1 trung liên, 1 khẩu B41, 1 giá H12 ứng dụng 2 ống. Ổ số 6 có 7-10 tên là sở chỉ huy đại đội, có 3 máy VTĐ, 1 ĐT.
Phía bắc và phía tây : ổ số 7 có 3-4 tên, trang bị 1 cối 60mm. Ổ số 8 có 4-5 tên. Ổ số 10 có 2-3 tên.
Trên đỉnh có ổ số 9, có 4-5 tên, trang bị 1 đại liên có tầm kiểm soát rộng, 1 B41. Ổ số 3 và 4 là ổ cảnh giới.
Tổng cộng địch có 40-55 tên, trang bị 2 đại liên, 4 trung liên, 5 B41, 3 giá H12 ứng dụng 6 ống. Mỗi ổ ngoài trang bị AK còn có hàng trăm lựu đạn, mìn, mặt nạ phòng độc, thiết bị thông tin…
Công sự của địch là bao cát hoặc xếp đá cao khoảng 0,4m, khoét lỗ bắn và thả lựu đạn. Bên ngoài công sự buộc lựu đạn giật nổ. Trước công sự 8-10m địch cài mìn ĐH dưới đất, trên cây, trên nhũ đá… phía tiếp xúc với ta gài mìn đè nổ và vướng nổ chống bộ binh cả loại chế sẵn và ứng dụng (nhét 6 thỏi TNT vào ống bơ và gắn bộ phận gây nổ).
Ban ngày địch hạn chế đi lại (có lúc phải bò), ban đêm phái 3 tổ cảnh giới ra phía tiếp cận với ta, tung thám báo, biệt kích, tiếp tế cho A6b.
Trong quá trình chiếm đóng địch bị ta bắn tỉa, tập kích nên tinh thần binh lính đã xuống thấp.

Cứ điểm 211 (A6B) được đánh ký hiệu C trong hình

Tình hình ta

Trung đoàn 567, sư đoàn 322 vào thay phiên từ 4-4-1985, lấy phiên hiệu trung đoàn 982, sư đoàn 313.
Phía ta, phòng ngự ở đồi Pháp, đồi Cô X, đồi Đài, A6a, 200, A21 tiếp xúc với địch là tiểu đoàn 4 và 6 của trung đoàn 567, sư đoàn 322, quân đoàn 26 Quân khu 1, tiểu đoàn 5 là lực lượng cơ động.
Để thực hiện đánh chiếm A6b, ta đã huấn luyện đại đội 4 tiểu đoàn 5. Nhưng từ 4 đến 7-5-1985, địch tấn công lấn chiếm trận địa ta, đại đội 4 được đưa vào phòng ngự. Nhiệm vụ đánh chiếm và chốt giữ lại A6b được giao cho đại đội 5.
Đại đội 5 tham gia chiến đấu 83 đồng chí (3 trung đội + 2 cối 60mm) trên tổng số 111 người, đại đội huấn luyện khá, quyết tâm cao, đoàn kết và kỉ luật tốt.
Đại đội 5 được tăng cường 1 phân đội trinh sát, 1 tiểu đội công binh, 1 tổ hoá học (4 người với 32 quả đạn M72 cháy), 1 tiểu đội vô tuyến điện có nhiệm vụ đánh chiếm A6b và chốt lại.


Nhiệm vụ :
Trung đội 1 : 21 đồng chí, tăng cường 3 công binh, 3 trinh sát, 2 hoá học, 2 thông tin (cộng 31 người), trang bị 5 B41, 1 B40, 2 M72, 27 AK, 6 quả MĐH10, 6 ống bộc phá. Chia làm 6 tổ (1 tổ dự bị) đánh từ hướng Đông Nam diệt ổ số 4, 5, phát triển diệt ổ 6, 9, chiếm sườn đông bắc A6b, chặn quân phản kích từ đồi Cây Khô và A5.
Trung đội 2 : 17 đồng chí, tăng cường 3 công binh, 3 trinh sát, 2 hoá học, 2 thông tin (cộng 27 người), trang bị 2 B41, 1 B40, 2 M72, 12 AK, 4 quả MĐH10. Chia làm 2 tổ đánh từ nam tây nam diệt ổ 1, 2, 3, phối hợp với trung đội 3 diệt ổ 7, 8, chiếm sườn tây nam A6b, chặn quân phản kích từ A22 (400).
Trung đội 3 (thiếu tiểu đội 9) : 14 đồng chí, tăng cường 3 công binh, 3 trinh sát, 2 thông tin (cộng 22 người), trang bị 3 B41, 9AK, 4 quả MĐH10. Chia làm 2 tổ, đánh từ tây bắc diệt ổ 7, 8, chiếm sườn bắc và tây bắc A6b, chặn quân phản kích từ A5, A22, A23.
Tiểu đội 9 : 13 đồng chí, tăng cường 2 thông tin (cộng 15 người), trang bị 1 B41, 1 B40, 8 AK bố trí ở phía đông A6a làm dự bị.
Đạn dược : B41 7 viên/khẩu, M72 8 viên/khẩu, AK 150 viên/khẩu, mỗi chiến sĩ trang bị 6 thủ pháo và 20 lựu đạn.



Cứ điểm 211

Hoả lực yểm trợ của tiểu đoàn 4 và 6 từ 5 điểm tựa xung quanh có nhiệm vụ kiềm chế đồi Chuối, Cây khô, A22, A23 gồm : 9 cối 60mm, 3 khẩu ĐKZ82, 17 B41, 4 khẩu 12,7mm, 3 khẩu MK19, 1 đại liên.
Hoả lực của cấp trên có : 20 súng cối 82mm của trung đoàn 567, 6 khẩu pháo 76,2mm, 19 khẩu pháo 105mm và 122mm.
Đại đội 6 tiểu đoàn 4 đảm nhiệm vận tải đạn, gạo, nước và thương binh tử sĩ.
Đại đội 11 tiểu đoàn 6 đảm nhiệm chuyển gỗ, bao cát làm công sự..

DIỄN BIẾN

Ngày 22-5-1985

Đại đội 5 vào tập kết ở hang Làng Lò cách A6b 1km.

Ngày 28 và 29/5/1985Đại đội 5 triển khai ở A6a, hang Gió, Cây si, A21 đúng kế hoạch, an toàn. Trong quá trình trinh sát ta phát hiện thêm ổ số 10. Trong ngày hôm đó, tiểu đoàn 4 dùng DKZ bắn sang 400 diệt 6 công sự và 1 tổ cảnh giới của địch.

Ngày 30/5/1985

Địch ở A6b bắn súng cối sang A6a làm ta hy sinh 1 và bị thương 2 đồng chí. Mũi chủ yếu trung đội 1 phải dồn lực lượng lại thành 5 tổ (1 tổ dự bị).

24h00 : đại đội trưởng kiểm tra các bộ phận lần cuối và báo cáo với tiểu đoàn.
Ngày 31/5/1985

03h00 : đại đội 5 bắt đầu chiếm lĩnh trận địa.

04h45 : ta hoàn tất việc chiếm lĩnh trận địa, chậm 30 phút so với kế hoạch do trung đội 3 vướng bãi mìn phải đi vòng.
Trung đội 1 cách bãi MĿH của địch 10m, 2 tổ cách địch 40m.
Trung đội 2 bố trí hàng dọc cách địch 20m.
Trung đội 3 bố trí hàng dọc cách địch 70m.

04h47 : trung đoàn phát lệnh bằng VTD, hoả lực của ta bắn xuống các điểm tựa của địch.
Từ A21, DKZ của ta bắn vào ổ số 8 làm chuẩn cho trung đội 3. Cối 60mm từ đồi Cây Gạo bắn xuống 400, A6b, đồi Cây Khô, đồi Chuối. Cối 82mm tây 673 (trận địa Phong Lan) bắn vào đồi Cây Khô 1 quả đạn sáng làm hiệu lệnh
Địch bị bất ngờ không phán đoán được ý định của ta nên không phản ứng được gì.
Trên các hướng ta dùng B40, B41, M72 bắn vào các mục tiêu mở đường.

04h55 : Ta xung phong.
Hướng trung đội 1, MĐH không nổ. Ta dùng 5 ống bộc phá đánh để mở đường. Do sót mìn, khi xung phong có 1 đồng chí bị thương.
Hai toán địch cảnh giới bên ngoài không còn. Tổ 1 đi đầu đánh ổ số 4, địch ném lựu đạn ra, ta tung thủ pháo vào, sau 5 phút chiếm được tầng trên. 3 tên địch nằm chết ngoài công sự. Ta đánh tiếp xuống tầng dưới, diệt 3 tên và bắt sống 1 tên, thu 3 khẩu B41 và 1 máy VTD, 1
ống nhòm hồng ngoại. Tổ 3 đánh ổ số 5. Sau khi B41 bắn sập kè đá, trung đội trưởng chỉ huy đánh lướt qua dùng B41 yểm trợ cho tổ 2 đồng chí Tuyến và Quang theo hào đá dùng thủ pháo đánh tiếp ổ số 9. Đồng chí Quang chiếm được khẩu đại liên bắn truy theo bọn địch đang chạy về ổ số 6.
Địch ở đồi cây Khô bắn cối 60mm chặn ta. Lúc này ta chưa chiếm được ổ số 6 và 8, địch từ đó phản kích lên ổ số 9, tổ 2 người của ta phải rút về ổ số 5.
Sau khi chiếm lại ổ số 9, địch chia làm 2 mũi, mỗi mũi nửa tiểu đội tập trung phản kích 4 lần vào ổ số 4, 5 đều bị ta dùng lựu đạn đánh lui
.

Hướng trung đội 2, sau khi MDH nổ, ta xung phong không ai bị thương vong. Đồng chí Thêm dùng B41 bắn vào ổ số 2. Địch ở 400 dùng DKZ bắn tới, đồng chí này hy sinh. Tiểu đội trưởng Kha lên thay bắn tiếp cũng bị trúng đạn hy sinh.
Sau khi diệt toán cảnh giới, đánh chiếm được ổ số 3. Ta dùng B41, B40 bắn tiếp vào ổ số 1, 2 chi viện cho bộ binh đánh vào
. Khi sục vào không còn địch.
Liên lạc với đại đội trưởng bị gián đoạn. Đồng chí Thu đại đội phó chính trị phán đoán trung đội 1 gặp khó khăn lệnh cho trung đội 2 để một bộ phận giữ khu đã chiếm, còn lại phát triển lên bình độ trên nhưng gặp vách đá và mìn không đi được. Lực lượng trung đội 2 chuyển sang hỗ trợ trung đội 1 và 3.

Hướng trung đội 3, MDH không nổ. Ta dùng B41 bắn vào bãi mìn để mở đường. Khi xung phong mìn nổ làm đồng chí Khánh trung đội phó 3 chiến sĩ bị thương (sau đó 2 đồng chí hy sinh).
Lúc xung phong chia làm 2 mũi cùng đánh ổ số 8 và 10. Chiếm được ổ số 10 trước còn ổ số 8 vì vách đá cao không lên được. Bị mất liên lạc với đại đội trưởng, đồng chí Khiêm đại đội phó ra lệnh cho trung đội 3 để lại một tổ giữ ổ số 10 số còn lại chuyển sang hướng ổ số 4 (trung đội 1 đã chiếm) để đánh tiếp sang ổ số 8.

05h15 : đại đội 5 đã làm chủ ổ số 1, 2, 3, 4, 5, 10, địch còn cố thủ chống cự ở ổ số 6, 7, 8, 9.
Đại đội trưởng quay về ổ số 4 báo cáo tiểu đoàn và điều lực lượng vào đánh tiếp. Chiến sĩ ta xuống báo trong ổ số 6 địch đang gọi điện.
Sau khi B41 bắn, tổ 4 do đại đội phó Khiêm chỉ huy đánh ổ số 6, tổ 5 đánh ổ số 9 và 8. 5 phút sau ta chiếm được. Ŀịch nằm chết quanh các hốc đá. Ổ số 6 còn 2 xác chết và nhiều vũng máu, 3 máy VTD vẫn có tiếng nói. Bọn còn sống chạy về A5.
Trong khi ta tấn công, địch ở ổ số 7 bỏ chạy ta không biết. Ŀến 5h35 ta vào chiếm nốt ổ số 7. Trận đánh chiếm A6b kết thúc. Ta nhanh chóng triển khai phòng ngự.

7h00 : pháo địch bắn trùm lên A6b, địch tổ chức tấn công Cô X, đồi Đài.

07h30 – 21h00 : địch từ A5 và A23 theo 2 hướng 5 lần tấn công A6b. Mỗi hướng từng đại đội địch thay phiên nhau xung phong liên tục.
Từ 1-6 đến 3-6-1985 địch tấn công tiếp 7 lần nữa.
Các đợt xung phong đều bị đại đội 5 (ngày 31-5 và 1-6) và đại đội 7 (ngày 2 và 3-6) đẩy lui. Hoả lực ta phát hiện sớm đánh nhiều lần vào quân địch khi chúng đang tập kết hoặc cơ động. Các toán vào gần đều bị bộ binh ta đánh lui.

Hoàng Sa Trường Sa ( còn nữa

3 phản hồi to “Bí mật lịch sử: Cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt lần 2 ( tiếp )”

  1. Vina Nhút said

    Buồn quá! Tháng Hai năm nay im lìm như… 33 cái tháng Hai kể từ ngày lên đánh tàu ở Khánh Khê. Ngày đó, không biết anh ả nào ở Hà Nội khéo mồm đã đọc ra rả trên Đài tiếng nói Việt Nam về chiến công của cán bộ chiến sĩ Đoàn Khánh Khê Anh hùng. Hỏi đồng đội, Đoàn Khánh Khê Anh hùng là đoàn nào? liền bị anh em chê mình “âm lịch”. Té ra Đoàn Khánh Khê Anh hùng chính là đơn vị mình F 337, mà E mình là E 52 vừa mới tử thủ ở Khánh Khê. Mấy tháng sau, nhân đi họp quân chính trên F, hỏi mấy cha tuyên huấn rằng f ta được Anh hùng sao không thấy ăn mừng khao quân cho anh em được bữa ăn tươi? Mấy cha tuyên huấn lại nói mình đúng là ” âm lịch”! Người ta nói mồm chứ có ai quyết định phong anh hùng cho F 337 mô! Mà mồm + ( cọng) với mồm là = ( Bằng ) không! Rứa mà đã 33 năm rồi, một phần tư thế kỷ rồi! Không biết người ta đã lấy được hết tử sĩ trên bình độ 400 chưa? À, mà sư đoàn còn nợ cái vụ bia mộ chí liệt sĩ Dương Xuân Thủy hi sinh trong trận Khánh Khê. Sau đó mấy tháng Viện 108 có điện về trung đoàn đề nghị cử người đưa tiền ăn và tem gạo cho thương binh Dương Xuân Thủy. Rứa là Thủy còn sống? Rứa thì liệt sĩ nào năm dưới mộ có cái bia ghi tên Binh nhất Dương Xuân Thủy là ai? Tháng 10.1981 mình rời quân ngũ về với đời thường. Tháng 9.2005 có dịp về Vinh, cùng mấy đồng đội cũ đến thăm Dương Xuân Thủy. Thủy ngồi xe lăn, vẫn nhận ra mình. Nhiều chuyện lính trận ôn lại, nhưng một câu hỏi mà bọn mình không nỡ nhắc lại, vì không có ai chịu trách nhiệm trả lời: ai là người nằm dưới tấm bia mộ có ghi tên binh nhất Dương Xuân Thủy?

  2. Liza said

    I get pleasure from, result in I found exactly what I used to be
    having a look for. You’ve ended my four day lengthy hunt!
    God Bless you man. Have a nice day. Bye

  3. Hey there! I just wanted to ask if you ever have any issues with hackers?
    My last blog (wordpress) was hacked and I ended
    up losing several weeks of hard work due to no data backup.
    Do you have any solutions to protect against hackers?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: